ĐẠI CƯƠNG
Dịch tễ học
Huyết khối tĩnh mạch (Venous thromboembolism–VTE) là một trong những nguyên nhân gây tử vong thường gặp có thể dự phòng được ở những bệnh nhân nằm viện. Khoảng 70% đến 80% trường hợp tử vong do tắc mạch phổi ở những bệnh nhân không phẫu thuật. Khoảng 40% bệnh nhân điều trị nội trú có nguy cơ cao bị VTE do có các yếu tố nguy cơ (trên 4 điểm) được mô tả dưới đây, do đó những bệnh nhân này sẽ được hưởng nhiều lợi ích hơn khi điều trị dự phòng.

Yếu tố nguy cơ:

Các yếu tố nguy cơ quan trọng của VTE ở bệnh nhân điều trị nội trú bao gồm:

  • 3 điểm: ung thư tiến triển, tiền sử VTE (không bao gồm huyết khối ở tĩnh mạch nông), tình trạng dễ bị huyết khối trước đây, nằm tại giường ít nhất 3 ngày.
  • 2 điểm: chấn thương hoặc phẫu thuật trong vòng một tháng trước
  • 1 điểm: trên 70 tuổi, béo phì (chỉ số khối cơ thể (BMI) trên 30), suy tim và/hoặc suy hô hấp, nhồi máu cơ tim (MI) cấp, nhồi máu não, nhiễm trùng cấp tính và/hoặc bệnh khớp, đang điều trị hormone dài ngày.

Dự phòng:

  • Điều trị dự phòng bằng thuốc giúp giảm 50% nguy cơ bị VTE
  • Tất cả các bệnh nhân phải được khuyến cáo lăn trở vài lần một ngày.
  • Bệnh nhân bị bệnh cấp tính có nguy cơ cao mắc VTE do có các yếu tố nguy cơ được mô tả ở trên, hiện tại không có dấu hiệu chảy máu hoặc không có nguy cơ chảy máu nên bắt đầu dùng thuốc heparin không phân đoạn (UFH) liều thấp, liều dự phòng , 5000 đơn vị tiêm dưới da mỗi 8h hoặc mỗi 12h, hoặc heparin trọng lượng phân tử thấp (LMWH), 40 mg enoxaparin tiêm dưới da hằng ngày hoặc 5000 đơn vị Dalteparin tiêm dưới da hằng ngày, hoặc 2,5 mg fondaparinux tiêm dưới da hằng ngày. Dùng Aspirin đơn độc không đủ để dự phòng VTE.
  • Những bệnh nhân có nguy cơ nhưng không có chống chỉ định với thuốc chống đông dự phòng huyết khối có thể được dự phòng bằng tất áp lực hoặc tất bó, mặc dù chưa có bằng chứng rõ ràng về lợi ích của phương pháp này trên bệnh nhân.