A. Tổ chức của ANS (Bảng 2.1 và Hình 2.1):

| Bảng 2.2 Tổ chức của hệ thần kinh tự động | |||
| Đặc điểm | Giao cảm | Phó giao cảm | Soma |
| Gốc của dây thần kinh trước hạch | Nhân của các thành phần tủy T1-T12; L1-L3 (ngực lưng) | Nhân của các dây thần kinh sọ III, VII, IX và X; các thành phần tủy sống S2-S4 (sọ cùng) | |
| Chiều dài của trục sợi thần kinh trước hạch | Ngắn | Dài | |
| Chất trung gian thần kinh trong hạch | ACh | Ach | |
| Loại receptor trong hạch | Nicotinic | Nicotinic | |
| Chiều dài của trục sợi thần kinh sau hạch | Dài | Ngắn | |
| Cơ quan tác động | Cơ trơn và cơ tim; các tuyến | Cơ trơn và cơ tim; các tuyến | Cơ xương |
| Chất trung gian thần kinh ở các cơ quan tác động | Norepinephrine (trừ tuyến mồ hôi, chúng dùng ACh) | ACh | Ach (các synap là khớp thần kinh cơ) |
| Các loại receptor ở cơ quan tác động | Alpha1, alpha2, beta1 và beta2 | Muscarinic | Nicotinic |
1. Tiếp nối synap giữa các neuron thần kinh được thực hiện trong các hạch tự động:
a. Hạch phó giao cảm nằm trong hoặc gần các cơ quan tác động.
b. Hạch giao cảm nằm trong chuỗi cạnh sống.
2. Các neuron trước hạch có thân tế bào trong CNS và tiếp nối synap với hạch tự động.
– Các neuron trước hạch của hệ thống thần kinh giao cảm bắt nguồn ở thành phần tủy sống T1-L3 hay vùng ngực lưng.
– Các neuron trước hạch của hệ thống thần kinh phó giao cảm bắt nguồn từ các nhân thần kinh sọ và trong các thành phần tủy từ S2-S4 hay vùng sọ cùng.
3. Các neuron sau hạch của cả 2 thành phần thần kinh tự động đều có thân tế bào trong các hạch tự động và tiếp nối synap với các cơ quan tác động (như tim, mạch máu, tuyến mồ hôi).
4. Tủy thượng thận là một vùng đặc biệt của hệ thống thần kinh giao cảm.
– Các sợi trước hạch tiếp nối synap trực tiếp lên các tế bào ưa chrom trong tủy thượng thận.
– Các tế bào ưa chrom tiết ra epinephrine (80%) và epinephrine (20%) vào trong tuần hoàn (xem Hình 2.1).
– U tủy thượng thận (pheochromocytoma) là một khối u của tủy thượng thận làm tiết quá mức lượng catecholamines và liên quan đến sự tăng bài tiết của 3-methoxy-4-hydroxymandelic acid (VMA).
Đại cương về hệ thống thần kinh tự động
Hệ thống thần kinh tự động (Autonomic Nervous System – ANS) chịu trách nhiệm kiểm soát các chức năng nội tạng của cơ thể. Trong môn sinh lý học, hệ thống này được chia thành hai nhánh chính hoạt động đối nghịch nhưng hiệp đồng để duy trì trạng thái cân bằng nội môi: hệ giao cảm (sympathetic) và hệ phó giao cảm (parasympathetic).
So sánh cấu trúc và chức năng hệ giao cảm và phó giao cảm
Mỗi hệ thống trong ANS đều bao gồm chuỗi hai neuron: neuron trước hạch và neuron sau hạch, xuất phát từ các vị trí khác nhau trong hệ thần kinh trung ương và sử dụng các chất trung gian hóa học đặc trưng tại synap.
- Hệ giao cảm (Ngực – Lưng): Các neuron trước hạch xuất phát từ đoạn tủy sống T1 đến L3. Sợi trước hạch thường ngắn, chất trung gian tại hạch là Acetylcholine (ACh) kích thích receptor nicotinic. Sợi sau hạch dài, giải phóng chủ yếu Norepinephrine tại cơ quan đích (trừ tuyến mồ hôi dùng ACh).
- Hệ phó giao cảm (Sọ – Cùng): Các neuron trước hạch xuất phát từ các nhân dây thần kinh sọ (III, VII, IX, X) và các đoạn tủy sống S2-S4. Sợi trước hạch dài, sợi sau hạch ngắn và đều sử dụng ACh làm chất trung gian tác dụng lên receptor muscarinic hoặc nicotinic.
Vai trò đặc biệt của tủy thượng thận
Tủy thượng thận được xem như một hạch giao cảm lớn bị biến đổi. Thay vì có sợi sau hạch đi đến cơ quan đích, các sợi trước hạch giao cảm chi phối trực tiếp các tế bào ưa chrom (chromaffin cells) tại đây. Các tế bào này bài tiết trực tiếp Epinephrine (khoảng 80%) và Norepinephrine (khoảng 20%) thẳng vào hệ tuần hoàn máu, giúp tạo ra đáp ứng toàn thân mạnh mẽ trong các tình huống stress hoặc khẩn cấp.
Tham khảo thêm các tài liệu chuyên ngành tại Sinh lý học Y Hà Nội 2025 và luyện tập củng cố kiến thức qua TRẮC NGHIỆM SINH LÝ YDS.
