Đau Ngực: Nguyên Nhân, Triệu Chứng Và Hướng Xử Trí Lâm Sàng

ĐẠI CƯƠNG:

Đau ngực thường gặp ở các bệnh nhân nội trú và mức độ của triệu chứng không phải lúc nào cũng tương xứng với nguyên nhân gây bệnh.

CHẨN ĐOÁN:

Biểu hiện lâm sàng:

Bệnh sử:

Khai thác tiền sử bệnh sử của bệnh nhân trong bệnh cảnh có thể có các bệnh khác kèm theo, đặc biệt là tiền sử bệnh tim mạch, các yếu tố nguy cơ của bệnh lí tim mạch và tắc mạch phổi.

Khám thực thể:

Thăm khám lâm sàng nên được thực hiện trong cơn đau, bao gồm đánh giá dấu hiệu sinh tồn (đo huyết áp (BP) hai tay nếu nghi ngờ phình tách động mạch chủ), khám cẩn thận các cơ quan tim, phổi và bụng, khám và sờ nắn kỹ lồng ngực để xác định chấn thương nếu có, các vết ban và tình trạng đau.

Chẩn đoán phân biệt:

Nguyên nhân gây đau ngực ở bệnh nhân điều trị nội trú rất phức tạp, từ nguyên nhân có thể đe dọa tính mạng như nhồi máu cơ tim, phình tách động mạch chủ, tắc mạch phổi tới các nuyên nhân như trào ngược thực quản, loét dạ dày, viêm phổi, viêm sụn sườn, bệnh zona, chấn thương thành ngực và rối loạn lo ấu.

Test chẩn đoán:

Đánh giá tình trạng oxy máu, chụp X-quang phổi và điện tâm đồ (ECG) là các xét nhiệm cần thiết ở hầu hết các trường hợp. Xét nghiệm men tim nhiều lần nên được thực hiện nếu nghi ngờ thiếu máu cục bộ cơ tim. Chụp cắt lớp vi tính (CT) xoắn ốc ngực và đánh giá thông khí/tưới máu (V/Q) được chỉ định để chẩn đoán tắc mạch phổi.

ĐIỀU TRỊ:

  • Nếu nghi ngờ thiếu máu cục bộ tim, điều trị ban đầu gồm thở oxy, uống aspirin và nitroglycerin 0,4 mg ngậm dưới lưỡi, hoặc morphine sulfate, 1-2 mg IV, hoặc phối hợp cả hai loại.
  • Nếu đau ngực nghi ngờ do bệnh lí đường tiêu hóa (GI), dùng phối hợp Maalox và diphenhydramine (30 mL mỗi loại với tỉ lệ 1:1).
  • Đau cơ xương khớp điển hình thường đáp ứng với điều trị thuốc nhóm acetaminophen hoặc uống thuốc chống viêm không steroid (NSAID).
  • Chỉ định thuốc chống đông ngay trong khi chờ kết quả xét nghiệm, nếu chẩn đoán nghĩ nhiều đến nhồi máu cơ tim hoặc tắc mạch phổi (trừ những trường hợp chống chỉ định).

Đau ngực là một triệu chứng phổ biến trên lâm sàng, gặp ở nhiều đối tượng khác nhau. Mức độ nghiêm trọng của cơn đau không phải lúc nào cũng tương xứng với nguyên nhân thực thể, đòi hỏi bác sĩ và nhân viên y tế phải đánh giá toàn diện, phân loại nhanh chóng các nguyên nhân nguy hiểm đến tính mạng để có hướng xử trí kịp thời.

Nguyên Nhân Gây Đau Ngực Thường Gặp Trên Lâm Sàng

Đau ngực có thể bắt nguồn từ nhiều cơ quan khác nhau trong lồng ngực và vùng lân cận. Việc phân loại nguyên nhân giúp định hướng chẩn đoán chính xác và tránh bỏ sót các bệnh lý nguy hiểm.

1. Nguyên nhân do tim mạch (Đe dọa tính mạng)

Đây là nhóm nguyên nhân hàng đầu cần được loại trừ ngay lập tức khi bệnh nhân có triệu chứng đau ngực:

  • Thiếu máu cục bộ cơ tim / Nhồi máu cơ tim: Cơn đau thường có cảm giác bóp nghẹt, đè nặng sau xương ức, lan lên cổ, hàm, vai hoặc tay trái, có thể kèm theo vã mồ hôi, khó thở.
  • Phình tách động mạch chủ: Đau ngực dữ dội đột ngột, cảm giác xé rách, lan ra sau lưng. Cần đo huyết áp hai tay để so sánh.
  • Tắc mạch phổi: Gây đau ngực kiểu màng phổi, khó thở đột ngột, nhịp tim nhanh, thường có các yếu tố nguy cơ huyết khối tĩnh mạch sâu.

2. Nguyên nhân ngoài tim mạch

Bên cạnh tim mạch, đau ngực còn xuất phát từ các hệ cơ quan khác:

  • Hệ hô hấp: Viêm phổi, tràn dịch màng phổi, tràn khí màng phổi thường gây đau ngực tăng lên khi hít sâu hoặc ho.
  • Hệ tiêu hóa: Trào ngược dạ dày thực quản (GERD), co thắt thực quản, loét dạ dày tá tràng có thể gây đau rát sau xương ức (ợ nóng).
  • Cơ xương khớp: Viêm sụn sườn, chấn thương thành ngực, đau cơ liên sườn thường đau khi ấn tại chỗ hoặc cử động lồng ngực.
  • Tâm lý – thần kinh: Rối loạn lo âu, cơn hoảng loạn, bệnh zona thần kinh giai đoạn sớm chưa xuất hiện ban da.

Tiếp Cận Chẩn Đoán Bệnh Nhân Đau Ngực

Quy trình thăm khám và cận lâm sàng đóng vai trò quyết định trong việc xác định nguyên nhân đau ngực:

  • Khai thác bệnh sử và khám thực thể: Đánh giá kỹ lưỡng tính chất cơn đau, thời gian kéo dài, các yếu tố tăng giảm, tiền sử bệnh tim mạch, huyết áp, hô hấp. Thăm khám sinh hiệu toàn diện.
  • Cận lâm sàng cơ bản: Điện tâm đồ (ECG) 12 chuyển đạo và chụp X-quang ngực thẳng là các xét nghiệm đầu tay bắt buộc.
  • Xét nghiệm chuyên sâu: Xét nghiệm men tim (Troponin) lặp lại nếu nghi ngờ hội chứng vành cấp. Chụp cắt lớp vi tính (CT) ngực có cản quang hoặc chụp CT xoắn ốc được chỉ định khi nghi ngờ phình tách động mạch chủ hoặc tắc mạch phổi.

Xử Trí Ban Đầu Và Điều Trị Theo Nguyên Nhân

Chiến lược điều trị phụ thuộc hoàn toàn vào kết quả chẩn đoán và mức độ cấp cứu:

  • Nghi ngờ hội chứng vành cấp: Cho bệnh nhân nghỉ ngơi, thở oxy nếu thiếu oxy máu, sử dụng aspirin nhai, nitroglycerin ngậm dưới lưỡi hoặc morphine sulfate theo chỉ định nếu không có chống chỉ định. Cân nhắc dùng thuốc kháng đông sớm.
  • Do bệnh lý tiêu hóa: Có thể đáp ứng với các phác đồ trung hòa axit hoặc giảm tiết theo hướng dẫn chuyên khoa tiêu hóa. Quý độc giả có thể tham khảo thêm tài liệu về chăm sóc sức khoẻ người bệnh hệ tiêu hoá để hiểu rõ hơn về cách chăm sóc và điều trị các bệnh lý đường tiêu hóa liên quan.
  • Do cơ xương khớp: Sử dụng thuốc giảm đau thông thường như acetaminophen hoặc thuốc chống viêm không steroid (NSAID) nếu không có chống chỉ định trên dạ dày, thận.
Nhận tài liệu mới qua email Đăng ký email để nhận tài liệu, sách mới và cập nhật nổi bật.
Thông tin được sử dụng theo chính sách bảo mật.

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Cần tài liệu? Nhắn mình Gửi tự động qua Messenger