CÁC BẠN TẢI SÁCH GỐC TIẾNG ANH GRAY’S ANATOMY FOR STUDENT 4E NỔI TIẾNG, CÙNG VỚI CÁC PHẦN MÌNH DỊCH Ở ĐÂY NHA: https://tailieuykhoamienphi.com/vung-bung-sau/

CÁC TẠNG

THẬN

Các thận có hình hạt đậu nằm sau phúc mạc ở vùng bụng sau (Hình 1.149). Chúng nằm trong mô liên kết ngoài phúc mạc ngay bên ngoài cột sống. Ở tư thế nằm ngửa, các thận mở từ gần đốt sống TXII phía trên đến đốt sống LIII phía dưới, với thận phải hơi thấp hơn thận trái do liên quan của thận phải với gan. Mặc dù chúng tương tự nhau về kích thước và hình dạng, nhưng thận trái dài hơn và mảnh hơn thận phải và cũng gần đường giữa hơn.

– Liên quan với những cấu trúc khác:

Mặt trước của thận phải liên quan đến một số cấu trúc, một vài trong số chúng được phân cách với thận bởi một lớp phúc mạc và một vài thì ngay trước thận (Hình 4.150):

+ Một phần nhỏ của cực trên được che phủ bởi tuyến thượng thận phải

+ Đi xuống phía dưới, phần lớn phần còn lại của phía trên mặt trước thận thì che bởi gan và được phân tách với thận bởi một lớp phúc mạc.

+ Bên trong, phần xuống của tá tràng nằm sau phúc mạc và tiếp xúc với thận.

+ Cực dưới của thận, ở bên ngoài thì liên quan trực tiếp với góc kết tràng phải, ở bên trong nó được che phủ bởi một phần của ruột non nằm trong phúc mạc.

Mặt trước của thận trái cũng liên quan đến nhiều cấu trúc, một vài trong số đó có liên quan đến phúc mạc và một vài thì liên quan trực tiếp đến thận (Hình 4.150):

+ Một phần nhỏ của cực trên, ở bên trong của nó, được che phủ bởi tuyến thượng thận trái.

+ Phần còn lại của cực trên được che phủ bởi dạ dày và lách bên trong phúc mạc.

+ Đi xuống phía dưới, thì tụy sau phúc mạc che phủ phần giữa của thận.

+ Ở phía ngoài của nó, nửa dưới của thận được che phủ bởi góc kết tràng trái và phần đầu của kết tràng xuống và ở phía trong của thận, bởi các phần của hỗng tràng bên trong phúc mạc.

Phía sau, các thận phải và trái liên quan đến các cấu trúc giống nhau (Hình 4.151). Phía trên là cơ hoành và phía dưới co hoành, di chuyển theo hướng từ trong ra ngoài là cơ thắt lưng lớn, cơ vuông thắt lưng và các cơ ngang bụng.

Cực trên của thận phải thì phía trước xương sườn XII, trong khi cùng vùng này ở thận trái là phía trước xương sườn XI và XII. Khoang màng phổi và đặc biệt là khe sườn hoành vì thế mở xuống phía dưới đến thận.

Cũng đi sau thận là các mạch máu dưới sườn và thần kinh dưới sườn và các dây thần kinh chậu hạ vị và chậu bẹn.

– Mạc và mỡ của thận:

Các thận được bao bọc và liên qqun đến một hệ thống mỡ và mạc duy nhất. Ngay bên ngoài bao thận, có một sự tích tụ mỡ ngoài phúc mạc – mỡ quanh thận, bao quanh hoàn toàn quanh thận (Hình 4.152). Bao quanh lấy lớp mỡ quanh thận là một lớp màng được xem là mạc ngoài phúc mạc (mạc thận). Các tuyến thượng thận cũng được bọc trong thành phần mạc này, thường phân tách với các thận bởi một vách mỏng. Mạc thận phải được rạch qua trong bất cứ phẫu thuật nào để tiếp cận đến cơ quan này.

Ở bờ ngoài của mỗi thận, thì các lá trước và sau của mạc thận dính lại với nhau (Hình 4.152). Lá dính lại với nhau này có thể kết nối với mạc ngang trên thành bụng ngoài.

Phía trên mỗi tuyến thượng thận, thì lá trước và lá sau của mạc thận dính lại và hòa lẫn với mạc che phủ cơ hoành.

Bên trong, lá trước của mạc thận tiếp tục che qua các mạch máu ở rốn thận và dính với mô liên kết liên quan với động mạch chủ và tĩnh mạch chủ dưới (Hình 4.152). Trong một vài trường hợp, lá trước có thể qua đường giữa đến bên đối diện và hòa lẫn với mạc bên đối diện.

Lá sau của mạc thận đi vào trong, giữa thận và mạc che phủ cơ vuông thắt lưng để dính với mạc che phủ cơ thắt lưng lớn.

Phía bên dưới, các lá trước và sau của mạc thận bao lấy niệu quản.

Cùng với lớp mỡ quanh thận và mạc thận, một lớp mỡ cạnh thận cuối cùng hoàn thành các thành phần mạc và mỡ liên quan đến thận (Hình 4.152). Lớp mỡ này xuất hiện ở phía sau và phía sau ngoài mỗi thận.

– Cấu trúc thận:

Mỗi thận có mặt trước nhẵn và mặt sau được che phủ bởi một bao sợi, có thể loại bỏ dễ dàng trừ khi có xuất hiện bệnh lí.

Ở bờ trong của mỗi thận là rốn thận, là một khe dọc sâu mà qua đó thì các mạch máu thận, mạch bạch huyết và thần kinh đi vào và rời khỏi mô thận (Hình 4.153). Bên trong, rốn thận là một xoang liên tục. Mỡ quanh thận tiếp tục đi vào tỏng rốn và xoang và bao quanh tất cả các cấu trúc.

Mỗi thận bao gồm một vỏ thận bên ngoài và một tủy thận bên trong. Vỏ thận là một dải mô liên tục nhạt màu bao phủ hoàn toàn quanh tủy thận. Sự mở rộng của vỏ thận (trụ thận) lồi vào mặt trong của thận, chia tủy thận thành các thành phần không liên tục có dạng tam giác (tháp thận).

Đáy của các tháp thận hướng ra bên ngoài, về phía vỏ thận, trong khi đỉnh tháp của mỗi tháp thận hướng vào trong, hướng về phía xoang thận. Đỉnh lồi (nhú thận) chứa các lỗ mở của các ống nhú dẫn từ các ống thận và được bao quanh bởi đài thận bé.

Các đài thận bé nhận nước tiểu từ các ống nhú và là đại diện cho các phần gần của ống mà cuối cùng sẽ tạo thành niệu quản (Hình 4.153). Trong xoang thận, vài đài thận bé hợp lại thành đài thận lớn và 2 đến 3 đài thận lớn hợp lại hình thành nên chậu thận, thành phần mà có hình phễu ở đầu trên của niệu quản.

– Mạch máu và mạch bạch huyết của thận:

Một động mạch thận lớn, là một nhánh bên của động mạch chủ bụng, cấp máu cho mỗi thận. Những mạch máu này thường xuất phát từ ngay dưới gốc của động mạch mạc treo tràng trên giữa đốt sống LI và LII (Hình 4.154). Động mạch thận trái thường có xuất phát cao hơn một chút so với bên phải và động mạch thận phải thì dài hơn và đi phía sau tĩnh mạch chủ dưới.

Mỗi động mạch thận đến gần rốn thận, thì nó chia thành các nhánh trước và sau, cấp máu cho nhu mô thận. Các động mạch thận phụ thì thường gặp. Chúng xuất phát từ phía ngoài của động mạch chủ bụng, hoặc trên hoặc dưới các động mạch thận ban đầu, đi vào rốn thận cùng với các động mạch chính hoặc đi trực tiếp vào thận ở một vài mức khác nhau và thường được gọi là động mạch ngoài rốn thận.

Nhiều tĩnh mạch thận tham gia hình thành nên các tĩnh mạch thận trái và phải, cả 2 đều phía trước các động mạch thận (Hình 4.154A). Quan trọng, tĩnh mạch thận trái dài hơn đi qua đường giữa phía trước động mạch chủ bụng và phía sau động mạch mạc treo tràng trên và có thể bị đè ép bởi một phình của một trong 2 mạch máu này (Hình 4.154B).

Thoát dịch bạch huyết của mỗi thận là các hạch động mạch chủ ngoài (các hạch thắt lưng) ở quanh gốc của động mạch thận.