TẤT CẢ MÁU TỪ HỆ TIÊU HÓA ĐỔ VỀ ĐỀU ĐI QUA GAN

Máu từ các phần của hệ thống tiêu hóa và lách đi qua một mạng mạch máu (vascular bed) thứ hai bên trong gan trước khi trở về tim (Hình 4.19).

Máu tĩnh mạch từ ống tiêu hóa, tụy, túi mật và lách đi vào mặt dưới của gan qua tĩnh mạch cửa của gan (hepatic portal vein). Tĩnh mạch này sau đó phân ra nhiều nhánh giống như một động mạch để phân bố máu đến các xoang gan (hepatic sinus) nhỏ được lót bởi tế bào nội mô (endothelium), hình thành nên hệ thống trao đổi của mạch máu ở gan.

Sau khi đi qua các xoang, máu tập trung về một sốt các tĩnh mạch gan ngắn (hepatic vein), sau đó dẫn máu vào tĩnh mạch chủ dưới ngay trước khi động mạch chủ dưới xuyên qua cơ hoành (diaphragm) và đi vào nhĩ phải (right atrium).

Bình thường, mạng mạch máu dẫn máu bởi hệ thống tĩnh mạch cửa liên kết với các mạng mạch máu dẫn máu bởi các mạch máu hệ thống qua các tĩnh mạch nhỏ, cuối cùng kết nối trực tiếp với hoặc tĩnh mạch chủ dưới hoặc tĩnh mạch chủ trên (superior or inferior vena cava).

THÔNG NỐI CỬA CHỦ (PORTACAVAL ANASTOMOSES)

Giữa những vùng trùng lặp quan trọng nhất về mặt lâm sàng giữa hệ thống cửa và chủ là ở mỗi đầu của thuộc phần bụng của ống tiêu hóa:

– Quanh đầu dưới của thực quản (esophagus)

– Quanh phần dưới của trực tràng (rectum).

Các tĩnh mạch nhỏ kèm theo tĩnh mạch rốn bị thoái hóa (dây chằng tròn của gan) thiết lập một thông nối cửa chủ quan trọng khác.

Dây chằng trong của gan kết nối rốn (umbilicus) của thành bụng trước với nhánh trái của tĩnh mạch cửa khi chúng đi vào gan. Các tĩnh mạch nhỏ mà kèm theo dây chằng này hình thành nên một sự kết nối giữa hệ thống cửa và vùng cạnh rốn của thành bụng, vùng mà dẫn máu vào các tĩnh mạch hệ thống.

Những vùng khác nơi mà tĩnh mạch cửa và tĩnh mạch hệ thống kết nối với nhau bao gồm:

– Nơi gan tiếp xúc trực tiếp với cơ hoành (diaphragm) (vùng trống (bare area) của gan);

– Nơi thành ống tiêu hóa tiếp xúc trực tiếp với thành bụng sau (vùng sau phúc mạc của ruột non và ruột già (small intestine and large intestine))

– Mặt sau của tụy (hầu hết tụy sau này nằm sau phúc mạc).

TẮC TĨNH MẠCH CỬA HOẶC MẠCH MÁU TRONG GAN

Tắc tĩnh mạch cửa hoặc mạch máu trong gan có thể ảnh hưởng đến sự thoát máu từ các phần của ống tiêu hóa trong ổ bụng. Các mạch máu mà kết nối giữa hệ thống tĩnh mạch cửa và tĩnh mạch hệ thống có thể trở nên giãn rộng nhiều và quanh co, làm cho máu trong các phân nhánh của hệ thống tĩnh mạch cửa không đi qua gan mà đi vào hệ thống tĩnh mạch chủ và đi về tim. Tăng áp tĩnh mạch cửa (portal hypertension) có thể làm cho giãn tĩnh mạch thực quản và trực tràng và dấu hiệu cây cọ (caput medusae) trong đó các mạch máu hệ thống tỏa ra quanh rốn từ các tĩnh mạch cạnh rốn giãn rộng và thấy được trên thành bụng.

CÁC TẠNG CỦA Ổ BỤNG ĐƯỢC CHI PHỐI THẦN KINH BỞI MỘT ĐÁM RỐI TRƯỚC SỐNG LỚN

Sự chi phối thần kinh cho tạng ổ bụng xuất phát từ một đám rối trước sống lớn (large prevertebral plexus) liên quan chủ yếu với mặt trước và sua của động mạch chủ (Hình 4.20). Các nhánh được phân bố đến mô đích dọc theo các mạch máu nguồn gốc từ động mạch chủ bụng.

Đám rối trước sống chứa các thành phần giao cảm, phó giao cảm và cảm giác tạng:

– Thành phần giao cảm xuất phát từ tủy sống mức T5 đến L2

– Thành phần phó giao cảm từ dây thần kinh lang thang (X) (vagus nerve) và mức tủy từ S2 đến S4.

– Các sợi cảm giác tạng nhìn chung song song với đường vận động.