DA VÀ CÁC CƠ CỦA THÀNH BỤNG TRƯỚC, NGOÀI VÀ CÁC THẦN KINH LIÊN SƯỜN CỦA NGỰC

Nhánh trước của các dây thần kinh gai sống T7 đến T12 theo đường dốc xuống dưới của phần ngoài các xương sườn và đi qua bờ sườn để vào thành bụng (Hình 4.14). Các dây thần kinh liên sườn T7 đến T11 chi phối cho da và cơ của thành bụng, cũng như dây thần kinh dưới sườn T12. Thêm vào đó, T5 và T6 chi phối cho phần trên của cơ chéo ngoài thành bụng; T6 cũng có chi phối đến da trên mỏm mũi kiếm xương ức.

Da và cơ trong vùng bẹn và trên mu của thành bụng được chi phối bởi L1 và không phải bởi các dây thần kinh ở ngực.

Các đốt bì của thành bụng trước được chỉ ra trong hình 4.14. Trên đường giữa, da trên vùng góc dưới xương ức là T6 và xung quanh rốn là T10. L1 chi phối da ở vùng bẹn và vùng trên mu.

Các cơ của thành bụng được chi phối bởi từng phần nhìn chung giống với chi phối cho đốt bì bên trên.

BẸN LÀ VÙNG YẾU Ở THÀNH BỤNG TRƯỚC

Trong suốt quá trình phát triển, tuyến sinh dục (gonads) ở cả hai giới đi xuống từ vị trí ban đầu của nó trên thành bụng sau vào trong khoang chậu ở nữ và phát triển thành bìu ở nam (Hình 4.15).

Trước khi đi xuống, một dây mô (dây chằng bìu (gubernaculum)) đi qua thành bụng trước và nối cực dưới mỗi tuyến sinh dục với vị trí nguyên thủy của bìu ở nam giới và môi lớn ở phụ nữ (phình môi bìu (labioscrotal swellings)).

Khoang phúc mạc mở ra một dạng ống (ống phúc tinh mạc (processus vaginalis)) và các lớp cơ kèm theo của thành bụng trước đi dọc theo dây chằng bìu ở mỗi bên vào phình môi bìu.

Ở nam giới, tinh hoàn, cùng với các cấu trúc thần kinh mạch máu của nó và ống dẫn tinh (ductus deferens) đi xuống vào trong bìu dọc theo một đường, ban đầu xác định bởi dây chằng bìu, giữa ống phúc tinh mạc và các phần che phủ kèm theo đến từ thành bụng. Tất cả còn lại của dây chằng bìu là một mô liên kết còn lại nối cực đuôi của tinh hoàn đến bìu.

Ống bẹn (inguinal canal) là một đường đi qua thành bụng tạo bởi ống phúc tinh mạc. Thừng tinh (spermatic cord) là một đoạn mở rộng ra dạng ống của thành bụng vào trong bìu mà chứa tất cả các cấu trúc đi giữa tinh hoàn và ổ bụng.

Đầu tận phía xa có dạng túi của thừng tinh ở mỗi bên chứa tinh hoàn, các cấu trúc liên quan và phần liên quan hiện tại của khoang phúc mạc (khoang của vỏ phúc tinh mạc).

Ở phụ nữ, các tuyến sinh dục đi xuống đến vị trí ngay trong khoang phúc mạc và không bao giờ đi qua thành bụng trước. Kết quả là, chỉ một cấu trúc lớn đi quan ống bẹn là thành phần ban đầu của dây chằng bìu (dây chằng tròn (round ligament) của tử cung).

Ở cả nam và nữ, háng (vùng bẹn) là vùng yếu trong thành bụng (Hình 4.15) và là vị trí của thoát vị bẹn.

MỨC ĐỐT SỐNG LI

Mặt phẳng qua môn vị là một mặt phẳng ngang, cắt ngang qua cơ thể ở phía dưới đốt sống LI (Hình 4.16). Nó là:

– Nó nằm khoảng giữa khuyết cảnh và khớp vệ và đi qua bờ sườn ở mỗi bên gần sụn sườn 9.

– Đi qua lỗ mở của dạ dày vào bên trong tá tràng (lỗ môn vị (pyloric orifice)), thành phần mà nằm ngay bên phải thân đốt sống LI; tá tràng (duodenum) sau đó tạo ra một hình chữ C đặc trưng trên thành bụng sau và đi qua đường giữa để mở vào hỗng tràng (jejunum) ngay bên trái thân đốt sống LII, ngược lại đầu tụy được bao lấy bởi đường cong của tá tràng và thân tụy mở rộng qua đường giữa sang bên trái;

– Đi qua thân tụy

– Gần vị trí rốn thận; bởi vì thận trái hơi cao hơn so với thận phải, nên mặt phẳng qua môn vị đi qua phía dưới của thận trái và phần trên của rốn thận phải.

HỆ THỐNG TIÊU HÓA VÀ CÁC THÀNH PHẦN CỦA NÓ ĐƯỢC CẤP MÁU BỞI 3 ĐỘNG MẠCH LỚN.

Ba động mạch lớn không đi thành cặp phân nhánh từ mặt trước của phần động mạch chủ bụng cấp máu cho phần bụng của ống tiêu hóa và tất cả các cấu trúc khác của hệ (gan (liver), tụy (pancreas) và túi mật (gallbladder)) (Hình 4.17).

Những động mạch này đi qua qua mạc treo bụng và mạc treo lưng (dorsal mesenteries and ventral mesenteries) để đi đến tạng cần cấp máu. Những mạch máu này vì thế mà cũng cấp máu cho những cấu trúc như lách và hạch lympho mà phát triển trong mạc treo. Ba động mạch này là:

– Động mạch tạng (celiac artery), phân nhánh từ động mạch chủ bụng (abdominal aorta) ở bờ trên của đốt sống LI và cấp máu cho ruột trước;

– Động mạch mạc treo tràng trên (superior mesenteric artery), xuất phát từ động mạch chủ bụng ở bờ dưới của đốt sống LI và cấp máu cho ruột giữa;

– Động mạch mạc treo tràng dưới (inferior mesenteric artery), xuất phát từ động mạch chủ bụng ở gần mức đốt sống LIII và cấp máu cho ruột sau.

TĨNH MẠCH DẪN MÁU TỪ PHẢI SANG TRÁI

Tất cả máu đi về tim từ các vùng của cơ thể khác phổi chảy vào trong nhĩ phải của tim. Tĩnh mạch chủ dưới (inferior vena cava) là tĩnh mạch hệ thống chính trong ổ bụng và dẫn máu vùng này cùng với vùng chậu (pelvis), đáy chậu (perineum) và cả hai chi dưới (lower limbs) (Hình 4.18).

Tĩnh mạch chủ dưới nằm ngay bên phải cột sống và xuyên qua gân trung tâm của cơ hoành ở gần mức đốt sống TVIII. Một số mạch máu lớn đi qua đường giữa để đưa máu từ phía bên trái cơ thể về tĩnh mạch chủ dưới.

– Một trong những tĩnh mạch đáng kể nhất là tĩnh mạch thận trái (left renal vein), dẫn máu từ thận (kidney), tuyến thượng thận (suprarenal gland) và tuyến sinh dục (gonad) ở cùng bên.

– Một tĩnh mạch khác là tĩnh mạch chậu chung trái (left common iliac vein), đi qua đường giữa ở gần mức đốt sống LV để hợp với động mạch tương ứng bên phải để hình thành nên tĩnh mạch chủ dưới. Những tĩnh mạch này dẫn máu chi dưới, vùng chậu và đáy chậu và các phần của thành bụng.

– Những mạch máu khác đi qua đường giữa bao gồm các tĩnh mạch thắt lưng trái (left lumbar veins), dẫn máu vùng lưng và thành bụng sau ở mỗi bên.