GIẢI PHẪU VÙNG:

– HỆ THỐNG XƯƠNG:

Thành phần xương của vùng lưng chứa chủ yếu là các xương đốt sống và các đĩa gian đốt sống liên quan. Xương sọ, xương vai, xương chậu và các xương sườn cũng đóng góp vào hệ thống xương này của lưng và cung cấp vị trí cho các cơ bám.

XƯƠNG ĐỐT SỐNG:

Có xấp xỉ 33 xương đốt sống, được chia thành 5 nhóm dựa trên hình dạng và vị trí (Hình 2.14):

– 7 xương đốt sống cổ giữa ngực và sọ được đặc trưng chủ yếu bởi kích thước nhỏ và sự xuất hiện lỗ trên các mỏm ngang (Hình 2.14 và 2.15).

– 12 đốt sống ngực được đặc trừng bởi diện khớp sườn của chúng (Hình 2.14 và 2.16); mặc dù tất cả các xương đốt sống đều có phần sườn như vậy, nhưng những thành phần này nhỏ và được hợp nhất với mỏm ngang ở những vùng khác ngực, các xương sườn được tách biệt với xương đốt sống và khớp thông qua khớp lồi cầu với thân đốt sống và mỏm ngang của đốt sống liên quan.

– Phía dưới các xương đốt sống ngực là 5 xương đốt sống thắt lưng, hình thành nên hệ thống xương nâng đỡ cho thành bụng sau và được đặc trưng bởi kích thước lớn của chúng (Hình 2.14 và 2.17).

– 5 đốt sống tiếp theo dính thành một xương duy nhất gọi là xương cùng, khớp mỗi bên với một xương chậu là một thành phần của thành chậu.

– Phía dưới xương cùng là một loạt xương đốt sống số lượng rất thay đổi, thường là 4, dính với nhau thành một xương tam giác đơn gọi là xương cụt.

Trong thời kì phôi, các xương đốt sống được hình thành từ các tế bào gọi là “đốt cứng” (sclerotomes), có nguồn gốc từ các đốt (somites) (Hình 2.18). Mỗi xương đốt sống có nguồn gốc từ phần đầu của hai đốt bên dưới ở mỗi bên và phần đuôi của hai đốt ở trên. Các dây thần kinh gai sống phát triển thành một phần và đi giữa xương đốt sống đang hình thành.

ĐỐT SỐNG ĐIỂN HÌNH:

Một xương đốt sống điển hình bao gồm một thân đốt sống và một cung đốt sống ở phía sau (Hình 2.19). Mở ra từ cung đốt sống là một số mỏm cho cơ bám và tiếp nối khớp với các xương lân cận.

– Thân đốt sống là phần mang trọng lượng chủ yếu của đốt sống và liên kết với thân đốt sống lân cận nhờ đĩa gian đốt sống và các dây chằng. Kích thước thân đốt sống tăng dần xuống dưới khi trọng lượng cần để nâng đỡ cơ thể tăng lên.

– Cung đốt sống hình thành nên thành phần bên và sau của lỗ đốt sống.

– Lỗ đốt sống của tất cả các xương đốt sống hình thành nên ống sống, chứa và bào vệ tủy sống. Phía trên, ống sống liên tục với khoang sọ của đầu qua lỗ lớn của xương sọ.

Cung đốt sống của mỗi xương đốt sống chứa cuống và mảnh (Hình 2.19):

– Hai cuống là trụ xương dính cung đốt sống vào thân đốt sống.

– Hai mảnh là tấm xương mở ra từ cuống và hai mảnh hai bên gặp nhau ở đường giữa hình thành nên trần của cung đốt sống.

Một mỏm gai lồi ra phía sau và xuống dưới từ chỗ nối của hai mảnh và là vị trí bám cho cơ và dây chằng.

Một mỏm ngang mở ra ở phía sau ngoài từ chỗ nối giữa cuống và mảnh ở mỗi bên và là vị trí cho cơ và dây chằng bám và cho khớp với xương sườn ở các đốt sống ngực.

Cũng từ vị trí nối giữa cuống và mảnh còn có mỏm khớp trên và dưới tiếp khớp với tương ứng các mỏm khớp dưới và trên của các xương đốt sống lân cận (Hình 2.19).

Giữa thân đốt sống và gốc của các mỏm khớp, mỗi cuống đốt sống khuyết phía trên và phía dưới. Những khuyết trên và dưới này hình thành nên lỗ gian đốt sống.

XƯƠNG ĐỐT SỐNG CỔ

7 xương đốt sống cổ được đặc trưng bởi kích thước nhỏ và sự xuất hiện của các lỗ trên mỏm ngang của chúng. Một xương đốt sống cổ điển hình có các đặc điểm sau đây (Hình 2.20A):

– Thân đốt sống ngắn về chiều cao và hình vuông khi nhìn trên xuống và có mặt trên lõm và mặt dưới lồi.

– Mỗi mỏm ngang có dạng hình máng, trên đó có lỗ mỏm ngang tròn.

– Mỏm gai thì ngắn và tách đôi.

– Lỗ đốt sống có hình tam giác.

Đốt sống cổ I và II- đốt sống đội và đốt sống trục – thì đặc trưng cho các cử động của đầu.

ĐỐT SỐNG ĐỘI VÀ ĐỐT SỐNG TRỤC

Đốt sống CI (đốt sống đội) khớp với đầu (Hình 2.21). Đặc điểm chính phân biệt nó đó là nó không có thân đốt sống (Hình 2.20B). Trong thực tế, thân đốt sống của nó dính vào thân đốt sống CII trong suốt quá trình phát triển để trở thành răng của đốt sống CII. Kết quả, không có đĩa gian đốt sống giữa CI và CII. Khi nhìn từ phía trên, đốt sống đội hình cái nhẫn và chứa hai khối bên liên kết với nhau bằng cung trước và cung sau.

Mỗi khối bên khớp ở trên với lồi cầu chẩm của xương sọ và phía dưới với mỏm khớp trên của đốt sống CII (đốt sống trục). Mỏm khớp trên hình hạt đậu và lồi, trái lại mỏm khớp dưới hầu như tròn và phẳng.

Khớp chẩm-đội cho phép đầu gật lên và xuống trên cột sống.

Mặt sau của cung trước có một mặt khớp cho răng, là một mỏm nhô lên trên từ thân của đốt sống trục. Răng được giữ tại vị trí nhờ dây chằng ngang của đốt sống đội phía sau nó và trải dài một khoảng, điểm bám hình ovale ở mặt trong của hai khối bên.

Răng đóng vai trò như một trục cho phép đốt sống đội và đầu dính của nó xoay trên một trục bên này qua bên kia.

Mỏm ngang của đốt sống đội lớn và nhô ra ngoài hơn so với những đốt sống cổ khác và đóng vai trò như một điểm tựa cho cơ thực hiện vận động, đặc biệt đối với cơ cử động đầu ở khớp đội trục.

Đốt sống trục đặc trưng bởi một răng hình răng lớn, mở lên trên từ thân đốt sống (Hình 2.20B và 2.21). Mặt trước của răng có một diện khớp hình ovale để khớp với cung trước của đốt sống trục.

Hai mặt trên ngoài của răng có một điểm ấn hình vòng đóng vai trò như một vị trí bám cho dây chằng chẩm-mỏm răng bên (dây chằng cánh) ở mỗi bên, nối răng đến mặt trong của lồi cầu chẩm. Những dây chằng này hạn chế sự xoay quá mức của đầu và đốt sống đội so với đốt sống trục.

ĐỐT SỐNG NGỰC:

12 đốt sống ngực tất cả đặc trưng bởi mặt khớp của chúng với xương sườn. Một đốt sống ngực điển hình có hai phần mặt khớp (mặt sườn trên và dưới) ở mỗi bên của thân đốt sống cho khớp với đầu sườn của chính nó và đầu sườn dưới (Hình 2.20C). Diện sườn trên lớn hơn nhiều so với diện sườn dưới.

Mỗi mỏm ngang cũng có một mặt khớp (diện sườn của mỏm ngang) để khớp với củ sườn của chính đốt sống. Thân đốt sống của đốt sống thì hơi có hình trái tim khi nhìn từ trên và lỗ đốt sống hình tròn.

ĐỐT SỐNG THẮT LƯNG

5 đốt sống thắt lưng phân biệt với các đốt sống ở những vùng khác do kích thước nó lớn (Hình 2.20D). Ngoài ra, chúng thiếu diện khớp với xương sườn. Các mỏm ngang thường mỏng và dài, với ngoại trừ là đốt sống thắt lưng V, chúng lớn và một phần nào đó hình nón cho dây chằng thắt lưng chậu bám để nối mỏm ngang với xương chậu.

Thân đốt sống của một xương đốt sống điển hình có hình trụ và lỗ đốt sống hình tam giác và lớn hơn ở đốt sống ngực.

XƯƠNG CÙNG

Xương cùng là một xương đơn có 5 xương cùng dính với nhau (Hình 2.20E). Chúng có hình tam giác với đỉnh hướng xuống dưới và đường cong ra phía mặt trước, lồi ra phía mặt sau. Nó khớp phía trên với đốt sống LV và phía dưới với xương cùng. Nó có hai mặt khớp hình chữ L lớn, một khớp mỗi mặt bên của xương, để khớp với xương chậu.

Mặt sau của xương cùng có 4 cặp lỗ cùng sau và mặt trước có 4 cặp lỗ cùng trước cho các nhánh trước và nhánh sau của các dây thần kinh gai sống từ S1 đến S4 đi ra. Thành sau của ống sống có thể không hoàn thiện gần đầu dưới của xương cùng.

XƯƠNG CỤT:

Lỗ gian đốt sống được hình thành mỗi bên giữa các thành phần xương đốt sống lân cận và các đĩa gian đốt sống liên quan (Hình 2.22). Lỗ cho phép các cấu trúc như các dây thần kinh gai sống và các mạch máu đi vào và ra khỏi ống sống.

Một lỗ gian đốt sống được hình thành bởi khuyết đốt sống dưới trên cuống đốt sống đốt sống phía trên và khuyết đốt sống trên trên cuống của xương đốt sống dưới. Lỗ giới hạn bởi:

– Phía sau là khớp gian mỏm đốt sống giữa hai mỏm khớp của hai đốt sống lân cận, và

– Phía trước bởi đĩa gian đốt sống và thân đốt sống kế cận.

Mỗi lỗ gian đốt sống là một khoang xác định bao quanh bởi xương và dây chằng và bởi các khớp. Bệnh lý tại các cấu trúc này và cơ xung quanh có thể ảnh hưởng đến các cấu trúc bên trong lỗ.

KHOANG SAU GIỮA CÁC CUNG ĐỐT SỐNG Trong hầu hết các vùng của cột sống, mảnh và mỏm gai của các đốt sống kế cận hình thành nên một thành lưng hoàn thiện cho ống sống. Tuy nhiên, ở vùng lưng, một chỗ nối lớn tồn tại giữa các thành phần sau của các cung đốt sống lân cận (Hình 2.23). Những chỗ nối này giữa các mảnh và mỏm gai các đốt sống lân cận tăng dần độ rộng từ đốt sống LI đến LV. Khoang có thể rộng hơn nhờ gấp cột sống lại. Những chỗ nối này cho phép dễ dàng đi vào trong ống sống cho các thủ thuật lâm sàng.