Đầu sườn hơi bè ra và thường xuất hiện hai mặt khớp chia ra bởi một mào. Mặt khớp trên nhỏ hơn khớp với diện sườn dưới trên thân đốt sống phía trên, ngược lại mặt khớp dưới lớn hơn khớp với diện sườn trên của đốt sống tương ứng.

Cổ sườn là một vùng ngắn, phẳng của xương chia đầu sườn và củ sườn.

Củ sườn lồi về phía sau từ chỗ nối của cổ sườn với thân sườn và gồm hai vùng, phần khớp và phần không khớp:

– Phần khớp phía bên trong và có một diện khớp hình oval khớp với mặt khớp tương ứng trên mỏm ngang của đốt sống liên quan.

– Phần không khớp thì bị xù xì bởi chỗ bám của dây chằng

Thân sườn nhìn chung thì mảnh và phẳng với các mặt trong và ngoài.

Bờ trên thì trơn láng và tù, ngược lại bờ dưới sắc. Thân sườn gấp về phía trước ngay bên ngoài củ sườn ở vị trị được gọi là góc sườn. Nó cũng hơi xoắn quanh theo trục dọc làm cho mặt ngoài của phần trước hơi lên trên so với phần sau. Bờ dưới của mặt trong có rãnh sườn.

CÁC ĐẶC ĐIỂM PHÂN BIỆT XƯƠNG SƯỜN TRÊN VÀ XƯƠNG SƯỜN DƯỚI

Các xương sườn trên và dưới các những đặc điểm riêng biệt (Hình 3.22).

Xương sườn I

– Xương sườn I thì dẹt treo phương nằm ngang và có một mặt trên và dưới rộng. Từ khớp của nó với xương cột sống TI, chúng cong xuống dưới để khớp với cán xương ức. Đầu sườn chỉ khớp với thân đốt sống TI và vì thế chỉ có một mặt khớp. Giống như những xương sườn I, củ sườn có mặt khớp để khớp với mỏm ngang. Mặt khớp trên của xương sườn được đặc trưng bởi một củ riêng, củ cơ thang, thành phần này chia hai rãnh trơn láng trên xương sườn ở giữa xương sườn. Rãnh trước tạo thành bởi tĩnh mạch dưới đòn và rãnh sau được tạo thành bởi động mạch dưới đòn. Trước và sau những rãnh này, thân sườn thì xù xì do cơ và dây chằng bám.

Xương sườn II

– Xương sườn II giống như xương sườn I, dẹt nhưng dài gấp đôi. Chúng khớp với thân đốt sống theo cách giống như hầu hết các xương sườn khác.

Xương sườn X

 – Đầu xương sườn X có một mặt khớp đơn lẻ để khớp với chính xương đốt sống tương ứng.

Xương sườn XI và XII

– Xương sườn XI và XII khớp chỉ với thân của các đốt sống tương ứng và không có củ sườn và cổ sườn. Cả hai xương sườn đều ngắn, hơi cong và hướng ra phía trước.

XƯƠNG ỨC

Xương ức người trưởng thành bao gồm 3 thành phần chính: Cán xương ức rộng và là thành phần phía trên của xương ức, thân xương ức dẹt và định hướng dọc theo cơ thể và mỏm mũi kiếm nhỏ nằm phía dưới (Hình 3.23).

 CÁN XƯƠNG ỨC

Cán xương ức hình thành nên hệ thống xương của cổ và ngực.

Mặt trên của cán xương ức mở rộng sang hai bên và có một số khuyết có thể sờ thấy, khuyết cảnh (khuyết trên ức), trên đường giữa. Nằm hai bên khuyết này là một hố oval lớn để khớp với xương đòn. Ngay dưới hố này, ở mỗi mặt bên của cán xương ức, là một diện khớp cho sụn sườn đầu tiên. Ở phía dưới mặt bên cán ức là một mặt bán khớp cho nửa trên của đầu trước của sụn sườn thứ hai.

THÂN XƯƠNG ỨC

Thân xương ức thì dẹt

Mặt trước của thân xương ức thường được đánh dấu bởi các cầu ngang biểu thị cho các đường nối giữa các thành phần gọi là đốt ức, từ đây xương ức phát triển trong thời kì phôi thai.

Bờ ngoài của thân xương ức có các mặt khớp với các sụn sườn. Phía trên, mỗi bờ ngoài có một mặt bán khớp khớp với phần dưới của sụn sườn II. Phía dưới phần bán khớp này là 4 mặt khớp để khớp với các sụn sườn III đến VI.

Ở đầu dưới của thân xương ức là một mặt bán khớp để khớp với một nửa trên của diện khớp sụn sườn VII. Đầu dưới của thân xương ức nối với mỏm mũi kiếm.

MỎM MŨI KIẾM

Mỏm mũi kiếm là phần nhỏ nhất của xương ức. Hình dạng của nó thì rất thay đổi; chúng có thể rộng, mảnh, nhọn, tách đôi, cong hoặc răng cưa.  Mỗi bên của phía trên bờ ngoài là một diện bán khớp khớp với nửa đầu dưới của sụn sườn VII.

KHỚP

CÁC KHỚP SƯỜN – ĐỐT SỐNG

Một xương sườn điển hình khớp với:

– Thân của đốt sống lân cận, hình thành một khớp với đầu sườn; và

– Mỏm ngang của đốt sống tương ứng, hình thành nên khớp sườn – mỏm ngang (Hình 3.24).

Cùng nhau, khớp sườn – đốt sống và các dây chằng liên quan cho phép cổ sườn xoay quanh trục dọc, xảy ra chủ yếu ở các xương sườn phía trên, hoặc đi lên hoặc xuống dưới so với thân đốt sống mà chủ yếu xảy ra với các xương sườn phía dưới. Sự kết hợp chuyển động của tất cả các xương sườn so với cột sống cần cho sự thay đổi thể tích lồng ngực trong quá trình thở.

KHỚP VỚI ĐẦU SƯỜN

Hai mặt khớp trên đầu của xương sườn khớp với mặt khớp trên của chính đốt sống tương ứng và với mặt khớp dưới của thân đốt sống phía trên. Khớp này được chia thành hai thành phần khớp hoạt dịch bởi dây chằng nội khớp, bám từ mào đến đĩa gian đốt sống lân cận và chia mặt khớp trên đầu sườn ra thành hai. Hai thành phần khớp hoạt dịch và dây chằng nội khớp thì được bao quanh bởi một bao khớp bám vào bờ ngoài của mặt khớp đầu sườn và cột sống.