Các đặc điểm bề mặt của vùng lưng được dùng để xác định các nhóm cơ để kiểm tra các dây thần kinh ngoại vi và ghi lại vị trí tương đối của đầu dưới tủy sống. Chúng cũng được sử dụng để xác định vị trí các cơ quan phía sau ở ngực và bụng.

Khi nhìn từ phía sau, cột sống bình thường không có các đường cong ngoài. Lõm da thẳng đứng chạy giữa hai khối cơ hai bên đường giữa (Hình 2.64).

CÁC ĐƯỜNG CONG NGUYÊN PHÁT VÀ THỨ PHÁT TRÊN MẶT PHẲNG ĐỨNG DỌC

Khi nhìn từ bên sang, cột sống bình thường có các đường cong nguyên phát ở vùng ngực và vùng cùng/cụt và đường cong thứ phát ở vùng cổ và thắt lưng (Hình 2.65). Các đường cong nguyên phát lõm ra trước. Các đường cong thứ phát lõm ra sau.

CÁC MỐC XƯƠNG QUAN TRỌNG NGOÀI CỘT SỐNG

Một số đặc điểm xương có thể sờ thấy cho một mốc quan trọng để xác định cơ và các cấu trúc liên quan đến cột sống. Trong những đặc điểm này là lồi cầu ngoài xương chẩm, xương vai và mào chậu (Hình 2.66).

Lồi cầu ngoài xương chẩm sờ được ở đường giữa phía sau đầu ngay trên đường chân tóc.

Gai, bờ trong và góc dưới xương vai thường nhìn thấy và có thể sờ được.

Mào chậu có thể sờ được dọc theo toàn bộ chiều dài, từ gai chậu trước trên ở bờ dưới ngoài của thành bụng trước đến gai chậu sau trên gần nền lưng. Vị trí của gai chậu sau trên thường nhìn thấy như một chỗ lõm ngay bên đường giữa.

LÀM THẾ NÀO ĐỂ XÁC ĐỊNH MỎM GAI CÁC ĐỐT SỐNG ĐẶC BIỆT

Xác định mỏm gai đốt sống (Hình 2.67A) có thể được sử dụng để phân biệt giữa các vùng cột sống và tạo điều kiện để nhìn thấy vị trí của các cấu trúc sâu hơn như đầu dưới tủy sống và khoang dưới nhện.

Mỏm gai của đốt sống CII có thể được xác định thông qua sờ sâu là một chỗ lồi lên tại đường giữa ngay dưới xương sọ.

Hầu hết những mỏm gai khác, trừ xương đốt sống CVII, thì không có thể sờ dễ dàng được do chúng bị che giấu bởi mô mềm.

Mỏm gai đốt sống CVII thường nhìn thấy như một chỗ lồi ở đường giữa ngay nền cổ (Hình 2.67B), đặc biệt khi cổ gập.

Mở ra giữa CVII và lồi cầu ngoài xương chẩm của xương sọ là dây chằng gáy, rõ ràng như một cầu dọc khi cổ gập lại (Hình 2.67C).

Phía dưới mỏm gai đốt sống CVII là mỏm gai đốt sống T1, cũng có thể nhìn thấy như một lồi ở đường giữa. Thường lồi hơn đốt mỏm gai đốt sống CVII (Hình 2.67A,B).

Gốc gai vai ở ngang mức mỏm gai đốt sống TIII và góc dưới của xương vai ngang mức mỏm gai của đốt sống TVII (Hình 2.67A).

Mỏm gai của đốt sống TXII ngang mức điểm giữa đường nối góc dưới xương vai và mào chậu (Hình 2.67A).

Một đường ngang giữa điểm cao nhất mào chậu ở mỗi bên đi qua mỏm gai của đốt sống LIV. Các mỏm gai đốt sống LIII và LV có thể sờ được phía trên và phía dưới mỏm gai đốt sống LIV tương ứng (Hình 2.67A).

Lõm cùng đánh dấu vị trí của gai chậu sau trên ngang mức với mỏm gai đốt sống SII (Hình 2.67A).

Đỉnh xương cùng sờ được ở nền của xương cột sống giưa hai khối mông (Hình 2.67A).

Đỉnh của các mỏm gai đốt sống không phải luôn luôn nằm trên cùng một mặt phẳng ngang tương ứng với thân đốt sống. Ở vùng ngực, các mỏm gai đốt sống thì dài và đi xuống dưới rõ ràng bên đỉnh của chúng ở ngang mức đốt sống bên dưới. Nói cách khác, đỉnh của mỏm gai đốt sống TIII nằm ngang mức đốt sống TIV.

Ở vùng thắt lưng và cùng, mỏm gai thường ngắn hơn là ít dốc xuống hơn ở vùng ngực và đỉnh của chúng khi sờ được thì phản ánh được gần hơn vị trí của thân đốt sống tương ứng. Kết quả, đầu mỏm gai sờ được của đốt sống LIV nằm xấp xĩ ở đốt sống LIV.

XÁC ĐỊNH ĐẦU DƯỚI CỦA TỦY SỐNG VÀ KHOANG DƯỚI NHỆN

Tủy sống không chiếm toàn bộ chiều dài của ống sống. Bình thường ở người trưởng thành, nó tận cùng ở mức đĩa gian đốt sống LI và LII; tuy nhiên, chúng có thể cao hơn ở mức TXII hoặc thấp hơn ở mức giữa LII và LIII. Khoang dưới nhện kết thúc ở gần mức đốt sống SII (Hình 2.68A).

Do khoang dưới nhện có thể vào được ở vùng lưng dưới mà không đe dọa tổn thương tủy sống, nên rất quan trọng để xác định vị trí của các mỏm gai đốt sống thắt lưng. Mỏm gai đốt sống LIV ngang mức đường ngang nằm giữa điểm cao nhất trên mào chậu. Ở vùng thắt lưng, mỏm gai đốt sống có thể sờ được nằm đối diện với thân đốt sống tương ứng của nó. Khoang dưới nhện có thể đi vào giữa mức LIII và LIV mà không đe dọa tổn thương tủy sống (Hình 2.68B). Khoang dưới nhện kết thúc ngang mức SII, mức có dấu lõm cùng đánh dấu gai chậu sau trên.

XÁC ĐỊNH CÁC CƠ CHÍNH

Một số cơ nội tại và cơ ngoại lai của vùng lưng có thể được quan sát và sờ. Lớn nhất trong số này là cơ thang và cơ rộng lưng (Hình 2.69A và 2.69B). Kéo xương vai về phía đường giữa có hể tăng cường cho cơ trám (Hình 2.69C), nằm sâu dưới cơ thang. Các cơ dựng sống được nhìn thấy như hai cột cơ dọc riêng rẽ được chia ra bởi lõm ở đường giữa (Hình 2.69A).