NHÓM CƠ SÂU CỦA VÙNG LƯNG

Nhóm cơ sâu hay nhóm cơ nội tại của vùng lưng mở ra từ xương chậu đến xương sọ và được chi phối bởi các nhánh thành phần của nhánh sau dây thần kinh gai sống. Chúng bao gồm:

– Các cơ ngửa và các cơ xoay của đầu và cổ – cơ gối đầu và cơ gối cổ (các cơ  gai-ngang).

– Các cơ duỗi và xoay cột sống – cơ dựng gai và cơ ngang gai.

– Các cơ thành phần ngắn – cơ gina gai và cơ gian ngang.

Mạch máu cung cấp cho nhóm cơ sâu này là thông qua các nhánh của động mạch đốt sống, động mạch cổ sâu, động mạch chẩm, động mạch cổ ngang, động mạch gian sườn sau, động mạch dưới sườn, động mạch thắt lưng và động mạch cùng ngoài.

MẠC NGỰC LƯNG

Mạc ngực lưng che phủ cơ sâu vùng lưng và thân (Hình 2.48). Lớp mạc này thì cần thiết trong việc bao phủ và liên kết các vùng:

– Phía trên, nó đi ra trước đến cơ răng sau và liên tục với mạc sâu ở vùng cổ,

– Ở vùng ngực, nó che phủ nhóm cơ sâu và chia chúng khỏi các nhóm cơ nông và cơ giữa.

– Phía trong, chúng bám vào mỏm gai các đốt sống ngực, bên ngoài, là vào các góc của xương sườn.

Nguyên ủy của cơ lưng rộng và cơ chéo sau dưới hòa lẫn thành mạc ngực lưng. Ở vùng thắt lưng, mạc ngực lưng bao gồm ba lớp:

– Lớp sau dày và bám vào những mỏm gai của các đốt sống thắt lưng và các đốt sống cùng và dây chằng trên gai – từ vị trí này, chúng mở ra bên ngoài để che phủ cơ dựng sống.

– Lớp giữa bám đỉnh mỏm ngang của các đốt sống ngực và dây chằng gian ngang ở bên trong – phía dưới, chúng bám vào mào chậu và, phía trên vào bờ dưới xương sườn XII.

– Lớp trước che phủ mặt trước của cơ vuông thắt lưng (một cơ của thành bụng sau) và được bám vào bên trong vào mỏm ngang đốt sống thắt lưng – phía dưới, chúng bám vào mào chậu và phía trên hình thành nên dây chằng cung ngoài cho cơ hoành bám.

Lớp sau và lớp giữa của mạc ngực-lưng cùng đến bờ ngoài cơ dựng sống (Hình 2.48). Ở bờ ngoài của cơ vuông thắt lưng, lớp trước cùng với lớp hợp bởi lớp giữa và lớp sau ở bờ ngoài cơ dựng sống hình thành nên gốc của một cân phủ lên cơ ngang bụng.

CÁC CƠ NGANG GAI

Hai cơ ngang gai chạy từ mỏm gai và dây chằng gáy lên phía trên và ra bên ngoài (Hình 2.49 và Bảng 2.3):

– Cơ gối đầu là một cơ rộng bám vào xương chẩm và mỏm chũm của xương thái dương.

– Cơ gối cổ là một cơ hẹp bám vào mỏm ngang của đốt sống cổ trên.

Các cơ ngang gai cùng nhau kéo đầu về phía sau, duỗi cổ. Riêng rẽ, mỗi cơ xoay đầu về một bên – cùng bên với cơ đang co.

CƠ DỰNG SỐNG

Cơ dựng sống là nhóm cơ lớn nhất của các cơ nội tại vùng lưng. Cơ nằm phía sau ngoài so với cột sống giữa mỏm gai ở bên trong và góc sườn bên ngoài. Chúng được che phủ ở vùng ngực và vùng thắt lưng bởi mạc ngực-lưng và cơ chéo sau dưới, cơ trám và các cơ bậc thang. Khối cơ khởi nguồn từ một gân rộng, dày bám vào xương cùng, các mỏm gai của các đốt sống thắt lưng và ngực dưới và mào chậu (Hình 2.50 và Bảng 2.4). Chúng chia ra ở vùng trên thắt lưng thành 3 cột cơ dọc, mỗi trong số chúng được chia ra thành những vùng khác nhau (thắt lưng, ngực, cổ và đầu), phụ thuộc vào nơi bám của cơ ở phía trên.

– Cột cơ phía bên ngoài của cơ dựng sống là cơ cơ chậu-sườn, liên quan với thành phần sườn và đi từ gân chung ban đầu đến bám vào nhiều góc sườn và các mỏm ngang của các đốt sống cổ dưới.

– Cột cơ giữa hay cột cơ trung gian là cơ lưng dài, là thành phần cơ dựng sống lớn nhất từ gân chung đến nền xương sọ. Trong suốt chặng đi của cơ, cơ bám về phía bên ngoài vào các mỏm ngang khác nhau của các đốt sống khác nhau.

– Cột cơ trong nhất là cơ gai sống, là thành phần nhỏ nhất và kết nối giữa các mỏm ngang của các đốt sống khác nhau. Cơ gai sống là cơ hằng định nhất ở vùng ngực và nhìn chung thì vắng mặt ở vùng cổ. Nó liên quan đến một cơ sâu hơn (cơ bán gai đầu) là nhóm cơ dựng sống gần với xương sọ.

Các cơ trong nhóm cơ dựng sống là các cơ chủ yếu trong ngửa đầu và ngửa cổ. Nếu chúng cùng co hai bên, chúng làm thẳng lưng, giúp trở về tư thế thẳng từ tư thế gập người và kéo đầu về phía sau. Chúng cũng tham gia vào điều khiển sự gập cột sống nhờ sự phối hợp co và giãn. Nếu chúng chỉ co một bên, chúng nghiêng cột sống về một bên. Thêm vào đó, co một bên đối với các cơ bám ở đầu thì giúp đưa đầu về phía bên co cơ.

CÁC CƠ GAI NGANG

Các cơ gai ngang là những cơ đi chéo lên trên và vào trong từ mỏm ngang đến mỏm gai, che phủ khoảng trống giữa hai mỏm ngang và mỏm gai (Hình 2.51 và Bảng 2.5). Chúng nằm dưới cơ dựng sống và bao gồm 3 nhóm cơ chính – cơ bán gai, cơ nhiều nhánh và các cơ xoay.

– Cơ bán gai là cơ nông nhất trong nhóm cơ gai ngang. Những cơ này bắt nguồn từ vùng ngực dưới và kết thúc nhờ bám vào xương sọ, đi giữa khoảng 4 đến 6 xương đốt sống từ nguyên ủy đến bám tận tại xương sọ. Các cơ bán gai được thấy ở ngực và cổ và bám vào xương chẩm ở nền sọ.

– Sâu dưới cơ bán gai là nhóm cơ thứ hai, cơ nhiều nhánh. Các cơ trong nhóm này trải dài theo suốt chiều dài cột sống, đi từ một điểm nguyên ủy bên ngoài lên trên và vào trong để bám vào mỏm gai và trải dài khoảng 2 đến 4 xương đốt sống. Cơ nhiều nhánh xuất hiện trong suốt chiều dài cột sống nhưng phát triển nhất ở vùng lưng.

– Các cơ xoay nhỏ là nhóm cơ sâu nhất cử nhóm cơ gai ngang. Chúng xuất hiện trong suốt chiều dài của cột sống nhưng phát triển nhất là ở vùng ngực. Các sợi cơ của nó đi lên trên và vào trong từ mỏm ngang đến mỏm gai qua 2 xương đốt sống (cơ xoay dài) hoặc dính vào đốt sống lân cận (cơ xoay ngắn).

Khi các cơ trong nhóm cơ gai ngang co hai bên, chúng làm cột sống duỗi ra, một động tác giống như nhóm cơ dựng sống. Tuy nhiên, khi các cơ chỉ một bên co, chúng kéo mỏm gai về phía mỏm ngang ở một bên, làm thân xoay về bên đối diện.

Một cơ trong nhóm cơ gai ngang, là cơ bán gai đầu có hoạt động riêng bởi vì chúng bám tận vào xương sọ. Co cơ hai bên, cơ này kéo đầu về phía sau và xoay đầu, làm cho cằm di chuyển lên trên và xoay về phía bên co cơ. Những động tác này tương tự như cơ dựng sống.

CÁC CƠ THÀNH PHẦN

Hai nhóm cơ thành phần (Hình 2.51 và Bảng 2.6) nằm vùng sâu ở lưng và được chi phối bởi nhánh sau dây thần kinh gai sống.

– Nhóm đầu tiên của các cơ thành phần là các cơ nâng sườn, bắt nguồn từ mỏm ngang của các đốt sống CVII và T1 đến TXI. Chúng chạy chéo xuống dưới và ra ngoài và bám vào xương sườn vùng củ sườn. Co cơ làm nâng xương sườn.

– Nhóm cơ thứ hai của các cơ thành phần là cơ thành phần thực sự của vùng lưng – cơ gian gai, đi giữa hai mỏm gai lân cận và cơ gian ngang, đi giữa hai mỏm ngang lân cận. Những cơ tư thế này ổn định xương đốt sống trong suốt quá trình cử động của cột sống để cho phép các vận động hiệu quả hơn của các nhóm cơ lớn.

CÁC CƠ DƯỚI CHẨM

Một nhóm cơ nhỏ của nhóm cơ sâu ở vùng cổ trên tại nên xương chẩm giúp chuyển động đầu. Chúng nối đốt sống cổ I (đốt sống đội) đến đốt sống cổ II (đốt sống trục) và và kết nối cả hai đốt sống đến nên sọ. Do vị trí của chúng nên chúng thường được nhắc đến như các cơ dưới chẩm (Hình 2.51 và 2.52 và Bảng 2.7). Chúng bao gồm mỗi bên là:

– Cơ thẳng đầu sau lớn

– Cơ thẳng đầu sau bé

– Cơ chéo đầu dưới

– Cơ chéo đầu trên

Co các cơ dưới chẩm làm ngửa đầu và xoay đầu ở tương ứng là khớp đội chẩm và khớp đội-trục.

Các cơ dưới chẩm được chi phối bởi nhánh sau của dây thần kinh gai sống cổ I, đi vào vùng giữa động mạch đốt sống và cung sau của đốt sống đội (Hình 2.52). Mạch máu cung cấp cho cơ trong vùng này từ các nhánh của động mạch đốt sống và động mạch chẩm.

Các cơ dưới chẩm hình thành nên ranh giới của tam giác dưới chẩm, một vùng chứa vài cấu trúc quan trọng (Hình 2.52):

– Cơ thẳng đầu sau lớn hình thành nên bờ trong của tam giác.

– Cơ chéo đầu trên hình thành nên bờ ngoài

– Cơ chéo đầu dưới hình thành nên bờ dưới

Các thành phần của tam giác dưới chẩm bào gồm:

– Nhánh sau dây thần kinh CI

– Động mạch đốt sống

– Các tĩnh mạch